Tổng quan về ngành xi măng Việt Nam

Xi măng là vật liệu xây dựng cơ bản được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới, hiện chưa có sản phẩm thay thế. Với vai trò là nguyên liệu đầu vào chính cho các ngành kinh tế lớn khác như bất động sản, xây dựng, đầu tư công, ngành xi măng được coi là ngành công nghiệp trụ cột, góp phần công nghiệp hóa, thúc đẩy quá trình đô thị hóa của một quốc gia.

Ngành xi măng gồm tất cả các doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, thương mại và xuất nhập khẩu xi măng nhằm mục tiêu Tiêu thụ nội địa và Xuất khẩu.

Nhận biết được tầm quan trọng của ngành xi măng, hầu hết các quốc gia đã giành nhiều chính sách ưu đãi để phát triển ngành. Với mục tiêu đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp hiện đại, Việt Nam đã coi ngành sản xuất xi măng là ngành công nghiệp trọng điểm của nền kinh tế, đáp ứng tối đa nhu cầu về xi măng và tăng cường xuất khẩu.

Các loại sản phẩm của ngành

Trên quan điểm người tiêu dùng cuối cùng, sản phẩm xi măng được chia thành ba nhóm chủ yếu:

  • Xi măng thông dụng (xi măng Portland (mác PC – không chưa phụ gia khoáng như: PC30, PC40, PC50,…), xi măng Portland hỗn hợp (mác PCB – có trộn thêm phụ gia khoáng như đá pudôlan, xỉ lò,… như: PCB30, PCB40,…)): là loại dùng cho công nghiệp xây dựng dân dụng, chiếm phần lớn sản phẩm của ngành và được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới. Tùy theo mục đích sử dụng, người tiêu dùng lựa chọn loại xi măng có tính năng phù hợp, ví dụ: xi măng PCB40 (hoặc PC40, PC50) dùng trong các công trình có yêu cầu kết cấu bê tông chịu lực cao.
  • Xi măng đặc biệt (xi măng bền sunfat, xi măng Porland trắng, xi măng Porland ít tỏa nhiệt): là loại xi măng chuyên dụng được thiết kế để cải thiện tính chất bê tông, sử dụng trong các công trình bê tông xây dựng tại những nơi có môi trường khắc nghiệt như ngoài bờ biển hoặc các môi trường nhiễm mặn, ví dụ như cầu tàu, bến du thuyền, tường chắn biển, đập nước… Loại xi măng này giúp giảm thiểu sự ăn mòn và phá hủy kết cấu thép.
  • Bán thành phẩm (Clinker, xi măng Portland thương phẩm): là sản phẩm thu được sau khi nung hỗn hợp nguyên liệu đá vôi – đất sét và một số phụ gia có thành phần cần thiết đến kết khối để tạo thành các khoáng chủ yếu gồm canxi silicat độ bền cao, canxi alumiat và canxi alumoferit. Chất lượng của bán thành phẩm sẽ quyết định tính chất của xi măng.

Các vật liệu xi măng thường dùng

Từ xi măng, trong xây dựng đã hình thành nên các vật liệu xi măng thường dùng như sau:

  • Hồ xi măng: Hỗn hợp của xi măng và nước. Hồ xi măng ít có ứng dụng thực tiễn, chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu vật liệu xi măng do chiếm tỷ lệ phần trăm lớn và chi phối nhiều tính chất cơ lý của loại vật liệu này.
  • Vữa xi măng: Hỗn hợp của xi măng, cát và nước. Nói một cách khác, vữa là vật liệu nhận được khi cho thêm cát vào công thức của hồ xi măng.
  • Bê tông: Hỗn hợp của xi măng, cát, sỏi và nước hoặc tùy trường hợp cụ thể có thể có thêm chất phụ gia hoặc các chất thêm khác.

 

Ngành xi măng thế giới

Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 160 nước sản xuất xi măng. Tổng công suất thiết kế xi măng toàn cầu tính đến cuối năm 2016 ước đạt hơn 6 tỷ tấn.

Sản lượng sản xuất xi măng toàn cầu tính đến năm 2017 ước đạt 4,2 tỷ tấn (theo báo cáo của VIRAC) – tương đương 73,4% công suất thiết kế, tăng mạnh từ mức 1,38 tỷ tấn năm 2002. Mức tăng trưởng xi măng thế giới năm 2016 là 2,44%, cao hơn so với mức tăng trưởng 1,44% của năm 2015. Mức tăng trưởng này bắt nguồn từ việc mở rộng ngành ở các nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh chóng thuộc khu vực Đông Nam Á và sự đóng góp của các quốc gia ở Châu Á khác và khu vực Nam, Trung Mỹ, Châu Phi và Trung Đông.

Sản xuất xi măng tại khu vực Châu Á dẫn đầu toàn thế giới, chiếm khoảng 80,2% sản lượng xi măng toàn cầu năm 2015.

Hiện nay, Trung Quốc đang là quốc gia sản xuất xi măng lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 58,6% sản lượng toàn cầu. Ngành xi măng Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng sau khi cải cách và mở cửa. Từ năm 1986 đến năm 2016, sản lượng xi măng của Trung Quốc đã tăng từ 166 triệu tấn lên 2,46 tỷ tấn với tỷ lệ tăng trưởng kép (CAGR) giai đoạn này đạt 9,3%/năm. Mặc dù nền kinh tế có dấu hiệu giảm nhẹ trong những năm gần đây, ngành xi măng Trung Quốc vẫn tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về sản lượng sản xuất xi măng trong nhiều năm. Rào cản để gia nhập ngành công nghiệp xi măng Trung Quốc tương đối cao. Tính đến hết năm 2016, Trung Quốc có khoảng hơn 3.000 doanh nghiệp sản xuất xi măng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, Chính phủ Trung Quốc tăng cường kiểm soát và hạn chế tăng trưởng đối với ngành xi măng. Năm 2018, việc tăng sản lượng xi măng sẽ bị nghiêm cấm tại Trung Quốc, chỉ những dự án sản xuất xi măng thực sự cần thiết mới được xây mới mà vẫn phải tuân thủ một số nguyên tắc nhằm đảm bảo tổng sản lượng chỉ giảm, chứ không tăng. Hiệp hội Xi măng Trung Quốc cũng đặt mục tiêu sẽ giảm 392,7 triệu tấn xi măng, chiếm 1/10 tổng sản lượng cả nước, đến năm 2020.

 

Tổng quan về ngành xi măng Việt Nam

Thị trường

  • Theo loại hình doanh nghiệp: Thị trường xi măng phân chia cho 3 đối tượng, bao gồm:
    • Khối Tổng Công ty Vicem (Hà Tiên 1, Bút Sơn, Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, Tam Điệp) chiếm khoảng 35% thị phần – là nhóm có tổng công suất đạt 27% tổng công suất xi măng Việt Nam.
    • Khối Liên doanh (SCCC (Thái Lan), Nghi Sơn (Nhật Bản), Chinfon (Indonesia), Thăng Long (Indonesia), Luks (Hongkong)), chiếm khoảng 29% thị phần.
    • Khối các doanh nghiệp tư nhân (Xuân Thành, Công Thành, Vissai và nhiều công ty xi măng nhỏ khác tại địa phương) nắm giữ khoảng 35% thị phần.

Theo khu vực địa lý

  • Miền Nam: Hà Tiên 1 và SCCC là 2 nhà máy xi măng lớn nhất chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ phía Nam.
  • Miền Bắc và Miền Trung: có nhiều nhà máy xi măng lớn. Một số công ty tiêu biểu như Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, Bút Sơn, Nghi Sơn, Lusks và Chinfon.

Kênh phân  phố i

Nhằm tạo ra hiệu quả kinh doanh cao nhất, hầu hết các doanh nghiệp có sự phân vùng phân phối và xây dựng các hình thức phân phối phù hợp với doanh nghiệp của mình. Về cơ bản có 2 hình thức xây dựng kênh phân phối chính:

  • Hệ thống phân phối chính và hệ thống đại lý: là phương pháp lựa chọn trên từng địa bàn một hay một số cá nhân, đơn vị đáp ứng các tiêu chí để làm nhà phân phối chính. Nhà phân phối chính là người trực tiếp mua hàng của công ty sản xuất thông qua văn phòng đại diện hoặc đơn hàng. Ưu điểm của kênh phân phối này là: Tiền được trả trước khi nhận hàng và Nhà phân phối chính có trách nhiệm tổ chức các đại lý bán lẻ tại các địa bàn đã được đăng ký để quản lý tốt công tác vận tải và chống bán phá giá thị trường theo khu vực. Mô hình này xác lập lợi ích hài hòa giữa nhà sản xuất và nhà phân phối cho phép các công ty sản xuất xi măng tận dụng được năng lực của xã hội trong công tác tiêu thụ sản phẩm, tiết kiệm được chi phí bán hàng, đồng thời đòi hỏi nhà phân phối chính phải có năng lực tổ chức và tài chính.
  • Hệ thống nhà phân phối dự án: để cung cấp kịp thời số lượng lớn xi măng cho các công trình xây dựng trọng điểm của Nhà nước, các công ty lựa chọn mô hình nhà phân phối dự án, đó là công ty ký hợp đồng cung cấp các chủng loại xi măng trực tiếp với các nhà thầu thi công công trình. Ưu điểm của kênh phân phối này là (i) sản phẩm được cung cấp trực tiếp theo nhu cầu của các công trình với số lượng lớn, đặc biệt các công trình có nhu cầu lớn như thủy điện, cầu cống, trung tâm thương mại, nhà cao tầng,…; (ii) áp dụng chính sách hoa hồng hấp dẫn cho các nhà phân phối sản phẩm.

Tính chu kỳ, mùa vụ ngành

Phụ thuộc lớn vào tốc độ phát triển kinh tế, tốc độ đô thị hóa quốc gia và nhu cầu xây dựng theo từng chu kỳ kinh tế, ngành xi măng có cùng chu kỳ phát triển với các ngành kinh tế khác như: Bất động sản, Xây dựng, Đầu tư công. Tính chu kỳ ngành thể hiện rõ rệt nhất trong giai đoạn từ năm 2013 đến nay, cụ thể:

Từ năm 2013-2014: thị trường bất động sản trầm lắng đã tác động đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xi măng nói riêng và nhóm ngành vật liệu xây dựng nói chung. Đây là giai đoạn khó khăn của ngành xi măng.

Từ năm 2015 đến nay: hưởng lợi từ tăng trưởng của thị trường bất động sản, ngành xi măng cũng đã có những chuyển biến tích cực trở lại.

Ngoài ra, qua quan sát và số liệu thống kê về diễn biến sản lượng tiêu thụ của ngành xi măng trong năm cũng cho thấy tính mùa vụ của ngành:

Thời điểm tiêu thụ xi măng giảm mạnh: tháng 2 hàng năm do đây là thời điểm Tết Nguyên đán của Việt Nam, nhu cầu xây dựng giảm mạnh.

Thời điểm tiêu thụ xi măng tăng cao: quý II và quý IV hàng năm thường cao nhất (sau Tết Nguyên đán và mua khô ở miền Nam thuận lợi cho việc xây dựng).

Bên cạnh đó, năm 2017 và 2018, diễn biến thời tiết mưa bão kéo dài cũng là lý do sản lượng tiêu thụ của ngành xi măng trong nước tăng không đáng kể.

Sự phân bổ không đồng đều của nhà máy sản xuất dẫn đến chênh lệch giá giữa các vùng miền

Các nhà máy xi măng phân bổ không đồng đều, các nhà máy tập trung chủ yếu tại các tỉnh phía Bắc như: Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hải Dương, Quảng Ninh,… là những nơi tập trung nhiều mỏ đá vôi, than đá (ở miền Bắc hiện có tới 340 mỏ và các điểm khai thác đá vôi đang hoạt động – nguyên liệu chính sản xuất xi măng) để tiết kiệm chi phí vận chuyển nguyên vật liệu và thuận lợi cho việc khai thác, trong khi số lượng các nhà máy lớn phía Nam rất hạn chế. Vì vậy, nguồn cung xi măng ở phía Bắc thường dư thừa, trong khi miền Nam thiếu hụt.

 

Chính vì tình trạng mất cân đối thị trường, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xi măng tại miền Bắc thường cao hơn so với thị trường miền Trung và miền Nam (cung vượt cầu khoảng 10 triệu tấn/năm), còn đối với các doanh nghiệp xi măng miền Nam do không chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào, kể từ năm 2010 trở đi, bình quân mỗi năm vận chuyển từ Bắc vào Nam khoảng 10 triệu tấn xi măng và Clinker. Theo đó, giá bán xi măng cũng có sự chênh lệch giữa các vùng miền: giá bán xi măng tại thị trường miền Nam thường cao hơn so với miền Bắc khoảng 10-5%, đặc biệt là khi chính sách kiểm soát tải trọng của Chính phủ có hiệu lực đối với các phương thức vận chuyển hoặc khi giá than đá, thạch cao và các nguyên liệu đầu vào sản xuất khác biến động tăng giá.

Chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng cao trong cấu thành giá sản phẩm

Sản xuất xi măng là ngành có chi phí vận chuyển chiếm tới 30% giá thành sản phẩm do các nguyên liệu đầu vào như than đá, đá vôi, clinker… đều là các sản phẩm có tải trọng nặng, khó khăn trong vận chuyển. Chính vì vậy, doanh nghiệp nào có lợi thế về vị trí sản xuất gần các mỏ khai thác, giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển hoặc thị trường tiêu thụ chủ yếu tại địa phương thì doanh nghiệp đó có ưu thế cạnh tranh về giá (do tiết giảm chi phí) so với doanh nghiệp sản xuất xi măng ở những nơi khác.

Việc vận chuyển của ngành xi măng Việt Nam từ trước đến nay có ít sự lựa chọn, đa phần phụ thuộc nhiều vào đường bộ, ít chú trọng vận chuyển bằng đường sắt hoặc đường thủy có chi phí rẻ hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do (i) số lượng tuyến vận chuyển bằng đường sắt, đường thủy ít; (ii) khó khăn khi vận chuyển tại các vùng miền trung du cần các phương tiện chuyên chờ linh động hơn; (iii) các mỏ khai thác, nhà máy sản xuất xi măng phần lớn đặt xa ga tàu, trạm cảng. Kể từ năm 2014, khi việc thực hiện chính sách kiểm soát nghiêm ngặt trọng tải xe lưu thông trên đường bộ đã khiến các doanh nghiệp xi măng đối mặt với vấn đề cước vận tải tăng (tăng từ 20%-30% do phải chia nhỏ chuyến hàng để vận chuyển).

Hiện do thiếu clinker và xi măng nên miền Nam buộc phải nhập khẩu hoặc vận chuyển từ miền Bắc và miền Trung vào thông qua đương biển. Tuy nhiên, trạm nghiền ở miền Nam chủ yếu là xây dựng dọc theo các con sông và các cảng biển nên hầu hết các cảng ở miền Nam chỉ có thể tiếp nhận tàu 2.000-5.000 tấn mà không thể xử lý các tàu lớn từ 20.000 tấn trở lên.

Xem thêm:

4 xu hướng phát triển của thị trường bất động sản

Những kiến thức căn bản về chứng khoán phái sinh

Quảng cáo: Trà giảm cân

Bạn có thể Quan tâm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *